Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2013

(Petrotimes) – Năm 2013, Chính phủ vẫn kiên trì thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, ưu tiên ổn định vĩ mô, lạm phát được kiềm chế mức thấp hợp lý. Việc giải quyết được nợ xấu ngân hàng, khơi thông thị trường bất động sản và thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2013.

Dựa trên ước tính tình hình kinh tế Việt Nam năm 2012 đã được báo cáo trước Quốc hội, dựa vào bối cảnh kinh tế Việt Nam năm 2013 và một số kịch bản dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới do một số tổ chức quốc tế xây dựng, nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội Quốc gia đề xuất dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2013 theo 3 kịch bản, trong đó kịch bản 2 được nhóm nghiên cứu coi là kịch bản chủ có nhiều khả năng xảy ra nhất.

Kịch bản chủ (KB2): Nợ công ở khu vực đồng tiền chung châu Âu tìm thấy lối thoát và không còn là vấn đề lớn; xung đột chính trị và tranh chấp chủ quyền biển đảo dịu bớt; nền kinh tế Mỹ được phục hồi khá, tăng trưởng kinh tế Nhật bản gần tương tự như năm 2012, thương mại thế giới tốt hơn năm 2012, luồng vốn FDI vào Việt Nam khả quan hơn, khi đó tăng trưởng GDP Việt Nam sẽ là 5,68%; vốn trên GDP là 30,5%; tăng trưởng xuất khẩu 14,6%.

Kịch bản tăng trưởng cao: Nợ công ở khu vực đồng tiền chung châu Âu được giải quyết cơ bản; xung đột chính trị và tranh chấp chủ quyền biển đảo hứa hẹn được giải quyết; kinh tế thế giới khả quan, thương mại thế giới tăng trưởng khá, Chính phủ có chính sách điều hành linh hoạt, kịp thời, hiệu quả trong việc khắc phục tình trạng đình đốn sản xuất kinh doanh doanh nghiệp và giải quyết nợ xấu, kịp thời đón bắt xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư FDI và ODA từ Trung Quốc, Ấn Độ sang các nước ASEAN… khi đó tăng trưởng GDP Việt Nam là 6,34%, tăng trưởng xuất khẩu là 16,3%. Nhập siêu trên xuất khẩu là 6,6%.

Kịch bản tăng trưởng thấp: Ở kịch bản này nền kinh tế thế giới không tăng trưởng cao như mong muốn do tình hình nợ công khu vực đồng tiền chung châu Âu chưa tìm được lối thoát, xung đột chính trị ở Trung Đông và chủ quyền biển đảo ở biển Hoa Đông, Biển Đông càng trở lên căng thẳng; tăng trưởng kinh tế Nhật chưa được cải thiện, vẫn tiếp tục giảm; nền kinh tế Mỹ được phục hồi không như mong muốn; xuất khẩu của Việt Nam sang các đối tác chính bị ảnh hưởng. Khi đó tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam được dự báo ở mức 5% so với năm 2012, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển trên GDP là 29%; tăng trưởng xuất khẩu là 12,8% và nhập siêu trên xuất khẩu là 2,4%.

Để kinh tế Việt Nam năm 2013 tăng trưởng đạt mức 5,67%, nhóm nghiên cứu kiến nghị một số chính sách như sau:
Thứ nhất, Chính phủ vẫn cần thiết duy trì ưu tiên ổn định vĩ mô, giữ lạm phát ở mức tương tự như năm 2012, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, linh hoạt. Chú trọng triển khai các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế, đặc biệt khu vực kinh tế Nhà nước. Đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó đặc biệt là tái cơ cấu đầu tư công. Đối với đầu tư công, cần ưu tiên và tiếp tục đầu tư vào các chương trình, dự án có tính kết nối giữa các chương trình, dự án đã hoàn thành hoặc đang được tiến hành để tạo nâng tối đa công năng của các công trình tạo sức mạnh lan tỏa của toàn hệ thống;

Thứ hai, có giải pháp nhằm khắc phục tình trạng đình đốn sản xuất của các doanh nghiệp như thực hiện chính sách miễn giảm thuế, phí… hỗ trợ và thúc đẩy tiêu dùng nội địa, chú ý tập trung vào đối tượng thu nhập trung bình và thấp trong xã hội. Thực hiện các chính sách thu hút các nguồn vốn trong nước đưa vào sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng.

Thứ ba, có giải pháp phá băng thị trường bất động sản nhằm giải quyết vấn đề nợ xấu, nhất là nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Việc tái cơ cấu ngân hàng cần được thực hiện triệt để và quyết liệt, không chỉ nhằm giải quyết một phần vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng mà quan trọng hơn là làm lành mạnh hóa thị trường tín dụng, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp.

Thứ tư, thực hiện đồng bộ các giải pháp (nhất là những chính sách về đất đai, đầu tư…) nhằm tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn FDI từ các nước Trung Quốc, Ấn Độ… vào các nước ASEAN, định hướng dòng vốn này vào những lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư, loại bỏ những dự án đầu tư với công nghệ cũ, lạc hậu… cũng như giảm thiểu tác động tiêu cực của đầu tư FDI lên cộng đồng doanh nghiệp trong nước.

Thứ năm, từng bước thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp và thực hiện nghiêm túc, trong đó nhất là đối với các doanh nghiệp Nhà nước nhằm giảm sự thất thoát lãng phí trong sử dụng vốn, tạo môi trường lành mạnh và bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.

(Theo Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội Quốc gia – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

[/lightbox]